Hiển thị các bài đăng có nhãn Lịch sử cafe. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Lịch sử cafe. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 13 tháng 2, 2015

Vài điều thú vị về CAFE: 

- Không giống như các loại đồ uống khác, chức năng chính của cà phê không phải là giải khát, mặc dù người dân Mỹ uống nó như thức uống giải khát. Nhiều người uống nó với mục đích tạo cảm giác hưng phấn. Theo một nghiên cứu được công bố vào tháng 8 năm 2005 của nhà hoá học Mỹ Joe Vinson thuộc Đại học Scranton thì cà phê là một nguồn quan trọng cung cấp các chất chống ôxi hóa (antioxidant) cho cơ thể, vai trò mà trước đây người ta chỉ thấy ở hoa quả và rau xanh. Những chất này cũng gián tiếp làm giảm nguy cơ bị ung thư ở người.



- Ban đầu cà phê rất đắt, vì thế chỉ có tầng lớp quý tộc hoặc những người giàu có mới được thưởng thức thứ đồ uống thơm ngon này.

- Honoré de Balzac thường uống loại cà phê rất đặc để có thể thức làm việc. Ông thường làm việc tới 12 tiếng một ngày. Ludwig van Beethoven có thói quen lựa chọn đủ 60 hạt cà phê để pha một tách Mokka. Johann Wolfgang von Goethe thì có ý tưởng chưng cất cà phê. Về sau nhà hoá học Friedlieb Ferdinand Runge đã chuyển hoá ý tưởng này thành hiện thực, nhờ vậy mà ông tìm ra caffein.

- Vào những thời kỳ khủng hoảng, người nghèo không có đủ tiền mua cà phê, họ phải uống các loại đồ uống giả cà phê để thay thế. Ngày nay, ở một số nước người ta coi việc uống cà phê như một thức uống phổ thông (cà phê thường có hàm lượng Cafein thấp) và ăn kèm bánh trái hoặc hoa quả.

- Người Phần Lan uống nhiều cà phê nhất thế giới. Năm 1998 mỗi người Phần Lan tiêu thụ khoảng 11,3 kg cà phê, tương đương với 1737 tách mỗi năm hay 5 tách mỗi ngày. Nước tiêu thụ cà phê lớn nhất thế giới là Hoa Kỳ. Năm 1998 dân nước này sử dụng 1.148.000 tấn cà phê (so với 58.000 tấn của Phần Lan). Trung bình mỗi người Mỹ tiêu thụ 4,8 kg hay 646 tách một năm (1,8 tách một ngày).

- Mỗi người Đức uống trung bình 4 tách cà phê một ngày, tương đương với 160 lít hay 6,7 kg một năm. Vì vậy cà phê là thức uống được ưa thích nhất của người Đức đứng trước bia . Ở Việt Nam lượng cà phê tiêu thụ nội địa còn rất khiêm tốn. Mỗi người Việt Nam một năm chỉ dùng hết khoảng nửa kg cà phê, bằng một phần mười các nước châu Âu.

- Do chứa hàm lượng chất dinh dưỡng cao nên người ta có thể sử dụng bã cà phê như một chất bón cây rất hữu hiệu. Trong thành phần của nó chứa nhiều canxi, phốt pho, nitơ cũng như các chất khoáng khác giúp ích cho sự phát triển của cây. Bã cà phê còn là một chất rửa tay tuyệt vời. Ngoài ra, do bao gồm nhiều hạt nhỏ và không bị bám dính nên người ta thường sử dụng bã cà phê để làm sạch những vật dụng mà tay không thò vào được như chai lọ hay các ấm đun nước. Cuối cùng, bã cà phê là thức ăn yêu thích của nhiều loài giun, vốn là người bạn gần gũi của cây cối.

Thứ Bảy, 4 tháng 10, 2014

Câu chuyện café - Phiêu lưu (part 2)

Không phải tự nhiên mà Cafe trở thành thứ thức uống phổ biến, say mê và kì lạ đến vậy bên cạnh những khuyến cáo về tác hại cho sức khỏe (sẽ đc cập nhật sau). Không phải tự nhiên mà từ những thế kỉ 14, 15 người ta đã tranh giành nhau, ích kỷ với nhau để bảo tồn thứ chất kích thích này cho riêng đất nước mình. Chính nguồn gốc và câu chuyện về những hạt Cafe đã đầy đủ sự li kỳ hấp dẫn lắm rồi. Thật sự là thiếu sót và đáng tiếc nếu nó mãi chỉ là thứ thức uống độc quyền của xứ Ả Rập xa xôi.

Sau khi những người buôn nô lệ đã mang cà phê từ Ethiopia

sang xứ Ả Rập thì nó đã trở thành một thức uống truyền thống của người Ả Rập và đây chính là nơi trồng cà phê độc quyền với trung tâm giao dịch cà phê là thành phố cảng Mocha, hay còn được gọi là Mokka, tức là thành phố Al Mukha thuộc Yemen ngày nay. Người Ả Rập rất tự hào về phát minh ra loại thức uống này và giữ bí mật để bảo tồn độc quyền về một loại sản phẩm. Họ đưa ra những chế tài rất chặt chẽ trong việc sản xuất và xuất khẩu cà phê như: Chỉ mang hạt ra khỏi xứ sau khi đã rang chín,người ngoại quốc cũng bị cấm không cho bén mảng đến các đồn điền cà phê. Thế nhưng dù nghiêm ngặt đến mức nào thì cũng có người vượt qua được, những khách hành hương được thưởng thức nước cà phê đã lén lút mang hạt giống về trồng, chẳng bao lâu khắp khu vực Trung Đông đều có trồng và truyền đi mỗi lúc một xa hơn.

Ban đầu, chính quyền Yemen tích cực khuyến khích uống cà phê. Quán cà phê đầu tiên mở ở Mecca và nhanh chóng lan rộng khắp cộng đồng người Ả Rập, quán cà phê trở thành nơi giải trí như đánh cờ, nhảy múa, ca hát,…nơi tổ chức các hoạt động xã hội, thương thảo kinh doanh. Quán cà phê nhanh chóng trở thành trung tâm hoạt động chính trị, và bị chính quyền đã ngăn cấm nghiêm ngặt. Trải qua vài thập kỷ, cà phê và các quán cà phê đã bị cấm sử dụng nhiều lần nhưng vẫn tồn tại, cuối cùng chính quyền đành chấp nhận nhưng đánh thuế lên cả hai.

Sau nhiều lần thất bại, người Hà Lan là dân tộc đầu tiên ở Châu Âu lấy được hạt giống cây này mang về thử trồng ở đảo Java ( khi đó là thuộc địa của họ).

Năm 1723, một sĩ quan hải quân Pháp tên De Clieu được về nghỉ phép ở Paris, đã quyết định đem cây này về xứ Martinique nơi anh trú đóng. Sau nhiều hoạn nạn De Clieu cũng trồng được cây cà phê ở một nơi kín đáo với 3 thủy thủ canh gác ngày đêm. Hơn 50 năm sau, Pháp trở thành đối thủ cạnh tranh gay gắt với Hà Lan, bất đồng xảy ra không thể giải quyết họ nhờ đến chính quyền Brasil đứng ra dàn xếp. Đây là cơ hội, với những quỷ kế, Brasil đã mang được hạt giống về nước và đây là khởi đầu cho giống cà phê trồng tại Brasil, biến các quốc gia Trung, Nam Mỹ trở thành những đế quốc cà phê lớn bậc nhất thế giới.

Trong khi đó, vào năm 1660 cà phê được người Hà Lan truyền vào Bắc Mỹ ở vùng Amsterdam, Bốn năm sau, người Anh chiếm vùng này và đặt tên là New York, cà phê trở thành một thức uống quen thuộc chỉ dành cho giới thượng lưu trong khi trà là thức uống phổ thông trong mọi tầng lớp. Thế nhưng đến năm 1773, khi Anh Hoàng George đánh thuế trà và người dân Mỹ nổi lên chống lại thì tình hình thay đổi. Người Mỹ giả dạng dân da đỏ tấn công những tàu chở trà đem đổ xuống biển. Biến cố lịch sử dưới tên Boston Tea Party đã làm cho người Mỹ nghiện uống cà phê và chẳng bao lâu thức uống này trở thành quốc ẩm.

                                                                                                   ST - (Còn nữa)

Thứ Hai, 29 tháng 9, 2014

Chuyện của hạt cafe



Những câu chuyện về cà phê thì rất nhiều, ly kỳ và đôi khi thêm chút phóng đại đến nỗi chẳng ai cần biết đến là thực hay hư. Chỉ biết rằng nó luôn đầy khoái cảm và thú vị như chính cái hậu vị để lại khi giọt cà phê tan vào trong từng tế bào cảm giác!

.
.
.
Chuyện kể rằng có anh chàng chăn dê tên Kaldi người xứ Abyssinia với đàn dê của anh ta. Lần nọ, đàn dê của anh đã ăn một loại quả cây lạ có màu đo đỏ rồi sau đó có những biểu hiện lạ thường. Kaldi phát hiện ra điều đó, anh liều ăn thử và thấy mình hưng phấn hẳn lên, ngờ rằng mình đã gặp một phép lạ bèn báo ngay cho vị quản nhiệm ở một tu viện gần đó. Nhà tu kia sợ rằng đây chính là một thứ trái cấm của quỷ dữ nên lập tức vứt vào lò lửa, thế nhưng khi những quả kia cháy xém tỏa ra một mùi thơm lừng, đến lúc này người tu sĩ kia mới tin rằng đó là một món quà của Thượng Đế ban tặng nên vội kêu thêm những tăng lữ khác đến tiếp tay. Họ đem rang lên, giã nhỏ rồi pha vào nước uống để mọi người cùng hưởng thiên ân.

Một câu chuyện về sự độc hại của cà phê, như câu chuyện ở đất nước Thụy Điển, quốc vương Gusitafu đệ tam muốn thử xem cà phê có độc hay không bèn ra quyết định bắt hai anh em tội phạm bị kết án tử hình đang giam trong ngục mỗi ngày phải được cho uống thứ nước làm từ quả ấy hai lần, thử xem họ chết ra sao? Đến lúc chết, vị hoàng đế này vẫn để lại di chỉ cho người kế vị là phải tiếp tục làm theo lệnh của ông ta, như một phép lạ, hai tử tù kia qua đời ở tuổi hơn 80! Và có lẽ đó là ghi nhận đầu tiên của loài người về tính dược lý của cà phê, …

Người ta tin rằng tỉnh Kaffa của Ethiopia chính là vùng đất khởi nguyên của cây cà phê. Từ thế kỉ thứ 9 người ta đã nói đến loại cây này ở đây. Vào thế kỉ thứ 14 những người buôn nô lệ đã mang cà phê từ Ethiopia sang vùng Ả Rập. Nhưng tới tận giữa thế kỉ thứ 15 người ta mới biết rang hạt cà phê lên và sử dụng nó làm đồ uống. Vùng Ả Rập chính là nơi trồng cà phê độc quyền. Trung tâm giao dịch cà phê là thành phố cảng Mocha, hay còn được gọi là Mokka, tức là thành phố Al Mukha thuộc Yemen ngày nay.

Cách thức pha chế cà phê truyền thống của người Ethiopia có lẽ là cách thức cổ xưa nhất. Hạt cà phê được cho vào một cái chảo sắt to và rang lên, sau đó được nghiền vụn ra hoặc cho vào cối giã. Chỗ hạt giã vụn đó được trộn với đường trong một cái bình gọi là jebena (một loại bình cổ thon có quai), nấu lên và đổ ra bát ... ( Còn tiếp)

                                                                                                  _Nguồn sưu tầm_

Thứ Tư, 18 tháng 9, 2013

Cà phê đầu đời

Ở ta, Sài Gòn hẳn là nơi đầu tiên có tiệm cà phê, có lẽ vào năm đầu thập niên 60 của thế kỷ XIX. Còn Hà Nội thì tất nhiên là đã tiếp nhận thứ thức uống đời mới ấy sau Sài Gòn, song không phải đến mãi sau khi Tây hạ thành Hà Nội lần thứ hai, năm 1882.
Café de Beira phố Hàng Khảm khai trương năm 1884, là quán cà phê mọc lên sớm nhất ở Hà Nội , nhiều người khẳng định vậy, cả viết lên báo và cả viết trong sách. Điều đó hình như chỉ đúng có một nửa thôi. Năm 1884, Hàng Khảm là đại lộ kiểu Tây đầu tiên của Hà Thành, nối Khu nhượng địa Đồn Thuỷ với đồn binh ở Cửa Nam (cái tuyến Hàng Khảm thuở xưa ấy ngày nay gồm ba phố: Tràng Tiền, Hàng Khay, Tràng Thi). Nhưng Café de Beira không phải ở Hàng Khảm mà nằm chếch ra, ở chỗ bây giờ là ngã tư Hai Bà Trưng – Nguyễn Khắc Cần. Quán cà phê đó phải đã có trước năm 1884, và cả trước 1882 nữa, bởi vì nó vốn là một cái căng – tin sĩ quan trong nhượng địa Đồn Thuỷ. Mà nhượng địa này thì Tây đã giành được từ năm 1875, nhờ vào Hoà ước Giáp Tuất.

Vả lại, Café de Beira (cho tới quãng 1959/60 vẫn thấy nhiều người lớn tuổi gọi khu nhà tập thể Bộ lương thực, số 10 Hai Bà Trưng, là “nhà Bây ra”) là quán của Tây, lại Tây nhà binh nên người mình chắc không lui tới, do vậy không thể được xem là quán cà phê đầu tiên của người Hà Nội. Vậy thì quán nào năm nào? Dò hỏi các bậc tiền bối thông tỏ muôn sự Hà Thành như nhà Hà Nội học Nguyễn Vinh Phúc, nhà văn Hà Ân, sử gia Trần Quốc Vượng, mà các cụ không biết cụ thể chính xác, nên tôi hậu sinh lại càng không thể biết được. Chỉ có thể chắc chừng là cà phê Hà Nội đã có từ lâu lắm rồi, bởi vì vào khoảng đầu thế kỷ XX đã có quán cà phê tại những nơi rất bình dân.
Như ở ngõ Cấm Chỉ. Bây giờ thì mất rồi, nhưng cho tới năm 1969, trước khi xa Hà Nội đi Bê tôi vẫn còn thấy trên cổng một ngôi nhà chỗ góc Cấm Chỉ – Kỳ Đồng con số 1906 và dòng chữ Café de Paris. Số và chữ khá to, được đắp nổi, nhưng đã phủ rêu và ẩn dưới mái tôn nên được cha tôi chỉ cho tôi mới thấy. Tuy tên quán chữ Tây, lại còn Paris nữa, nhưng ngõ Cấm Chỉ vào năm 1906 thì Tây nào lai vãng, nên chắc hẳn đó là quán cà phê của người Việt, mà người Việt tầng lớp bình dân.
Hà Nội, thuở tôi còn tuổi học trò, mười năm hoà bình giữa hai cuộc chiến, tuy đã hoàn toàn là đời sống “phe ta – dân chủ nhân dân” nhưng hình hài thời Pháp thuộc hầu như còn cả đó. Các cửa hiệu, hãng buôn, cao lâu, tửu quán, khách sạn, tòa báo… tất cả đã dẹp tiệm, đã đóng cửa, đã công hữu hoá, mậu dịch hoá, nhưng cái mác cái danh của những cơ sở đó thì vẫn còn thấy. Do hồi xưa ấy người ta hay đắp nổi tên với năm ra đời của hãng lên cổng hoặc lên mặt tiền tầng trên toà nhà, và cả những tư gia cũng vậy, cũng có năm sinh của ngôi nhà trên cổng, nên qua các con số có thể cảm nhận được những giai đoạn phát triển của Hà Nội trước 1954. Thấy nhiều nhất là các toà nhà, biệt thự, hãng buôn ra đời trong vòng mười năm từ 1930 tới 1939. Thứ nữa là các năm: 1949, 1950, 1951, tức là khoảng giữa thời Tạm chiếm.

Những ngôi nhà của thập niên 1920 không nhiều, trước đó nữa lại càng hiếm. Nhưng, rất lạ, mặc dù được xây dựng tại những nơi rất xa khu phố Tây, và rất sớm, 1919, 1915, 1910, 1905, thậm chí 1903, vừa khi có cầu Long Biên, thậm chí cả trước đó nữa, 1887, mà chúng hầu hết là nhà kiểu Tây, nhà gạch hai tầng, chí ít thì đấy không phải kiểu nhà truyền thống của người Việt. Ngôi nhà có con số 1887 đắp nổi trên cổng chính tọa lạc đầu phố Nguyễn Thiệp (năm 1966 nhà này bị bom Mỹ đánh sập), theo nhớ lại của nhà văn Hà Ân, thì đấy là ngôi nhà đầu tiên của người Hà Nội xây theo kiểu Tây. 1887, nghĩa là chỉ 5 năm sau khi quân Pháp đánh chiếm Hà Thành lần thứ hai. Và vào năm đó, 1887, ngoại trừ quân lính đóng đồn trong Thành, người Pháp dân sự vẫn đang sống cụm lại ở nhượng địa Đồn Thuỷ, thế mà ngoài phố đã có người Việt xây nhà kiểu Pháp ! Quá trình tiếp thu đời sống mới khởi sự thật là sớm sủa.
Bởi vì người Việt mình, một mặt có tinh thần dân tộc rất cao, luôn quyết liệt chống quân xâm lược nước ngoài, nhưng mặt khác lại không mù quáng chống người nước ngoài, không mắc tật bài ngoại. Người mình không có cái lối anh hùng rơm, chẳng hạn vì chính sự có khúc mắc gì đó với người Nhật thì ồ ạt đàn lũ đổ ra đường hò hét chửi bới nước Nhật người Nhật, đốt cờ Nhật, đập phá xe hơi mác của Nhật. Tuy Tây là kẻ thù xâm lược thật đấy, nhưng họ có thứ gì hay thì người mình vẫn chuộng và vẫn xài. Nhà cửa, xe cộ, vật dụng, đường xá, cầu cống, đèn đóm, điện nước. Nói chung là đời sống đô thị tân thời chẳng phải hầu hết gốc gác từ Tây cả đó sao. Rồi cả chữ cái vẫn viết hàng ngày nữa. Rồi trang phục, đầu tóc. Đủ thứ.

Trước cuộc chiến tranh năm 1979 tôi sống ở phố Hàng Cân, nhà 21, vốn là một cửa hiệu của người Tàu nhưng lại chuyên về buôn bán các đồ ăn thức uống của Tây. Hiệu buôn cha truyền con nối từ khai trương năm 1878 tới tận khi “đánh tư sản” 1958. Hậu duệ cuối cùng của chủ hiệu là bà cụ Lìm, độc thân, vẫn sống ở 21 Hàng Cân cho tới ngày phải rời đất Việt hồi hương. Bà cụ vẫn còn giữ làm kỷ vật được sổ sách từ thuở ban đầu của cửa hiệu. Đã ố vàng và toàn chữ Nho, nhưng bà Lìm đọc được, bà dịch cho tôi. Năm khai trương là Mậu Dần thời vua Tự Đức. Hàng họ thì tạp pí lù, tôi không nhớ hết được, chỉ nhớ là rặt những sản phẩm Âu châu : bột mỳ, rượu nho, rượu ngải, rượu cồn, dầu ô liu, pho mai, thuốc lá sợi, thuốc lá nhai, đường kính… và, cà phê.
Năm Mậu Dần, 1878, Hà Thành và toàn bộ Bắc Kỳ vẫn là của triều đình Việt Nam, Tây chỉ có một phái bộ vài trăm người bị cô lập lại trong Đồn Thuỷ. Nên tôi nghĩ các thứ như thuốc lá, rượu vang, cà phê của cửa hiệu Hàng Cân được bán chủ yếu cho người Việt xài, chứ Tây đâu ra. Mà Hàng Cân thì chỉ là phố nhỏ, gần như khuất nẻo, bởi thế hồi đó nhất định là còn có những cửa hiệu buôn đồ Tây lớn hơn nhiều nằm ở các phường phố buôn bán sầm uất của Hà Thành. Nghĩa là hồi đó, những năm nửa cuối thập niên 70 thế kỷ XIX, mặc dù đang trong tình trạng nửa chiến tranh với Pháp, dân Hà Nội vẫn không ít người xài đồ Pháp. Và nguồn hàng của các cửa hiệu buôn đồ Âu châu chắc là phải từ Nam Kỳ thuộc địa của Pháp buôn ra. Chiến tranh thì chiến tranh vẫn có giao thương, vẫn có buôn bán qua lại. Thời thế ra sao mặc thời thế, người Hà Nội vẫn phải sống và vẫn gắng sống sao cho dễ chịu nhất có thể được.
Riêng về cà phê, thì theo như tôi thấy ở sổ sách của cửa hiệu xưa nhà 21 Hàng Cân, thứ đồ uống đó đã ra Hà Nội từ những năm tương đối hoà bình, giữa hai lần Hà Thành thất thủ. Và người ta mua cà phê chắc không chỉ để pha uống tại gia, vì cũng như rượu, như trà, mấy ai mà cứ mãi mãi nhất mực nhấm nháp cà phê một mình ở nhà riêng cho được. Cho nên quán đầu tiên cà phê của người Hà Nội có lẽ là đã ra đời vào khoảng những năm từ 1875 tới trước 1882.
Café de Paris, 1906, ở ngõ Cấm Chỉ, tuy có thể không phải là quán đầu tiên, song vẫn đáng được coi là quán cà phê Hà Nội nhiều tuổi đời hạng nhất nhì. Bởi vì cho tới năm 1969 đấy vẫn là quán cà phê, dù là “cà phê chui”, vô danh. Mất tên nhưng vẫn tồn tại nên vẫn còn tuổi. Khi tôi lần đầu vào đó, đó là một quán cà phê Hà Nội đã 63 năm tuổi.
Phải là quán chui vì cà phê là thứ đồ uống quốc cấm. Hồi đó chỉ thứ gì mậu dịch phân phối mới là đồ ăn đồ uống chính danh, còn của tư nhân tư hữu bán ra thì ít nhiều đều là sự ăn uống bất chính. Có lúc bị cấm ráo riết, có lúc bị cấm vừa chừng, thậm chí lơi lỏng, nhưng dù gì, quán cà phê vẫn cần náu danh ẩn mình mới tồn tại nổi. Cái thời ấy nó thế, may thay cà phê Hà Nội chỉ gặp hạn có cái thời đó thôi,
Lớn lên trong thời buổi đó nên cũng dễ hiểu là đã 17 tuổi mà tôi chưa từng nếm một giọt cà phê. Bữa đó vào quán Cấm Chỉ là lần đầu trong đời tôi biết quán cà phê. Tôi đi cùng cha tôi vào đấy. Buổi chiều, ngay trước ngày tôi nhập ngũ. Cấm Chỉ ngày đó vắng ngắt, mà nhem nhuốc, nhà một tầng tệ hơn nhà cấp bốn, thậm chí cả nhà mái lá, vá chằng vá đụp, chỉ mỗi cái “Café de Paris” ấy là nhà hai tầng, nhưng cũng rất xập xệ, rêu mốc, tróc lở. Ở cổng bày cái kệ bán dưa cà. Bên trong, tầng trệt, thì là quán chè đậu đen, không hẳn quán chui nhưng cũng chẳng công khai.
Cha tôi chào bà cụ bán dưa cà, bà cụ nhìn thấy rõ là khách quen, mới đẩy hé cánh cửa ra mời vào. Lẳng lặng đi ngang tầng trệt, vòng ra sân sau, trèo cầu thang lên áp mái. Cà phê phin trên đó. Một khoang gác ọp ẹp. Dăm bộ bàn ghế thấp tịt. Khách khứa lặng lờ như những cái bóng, không ai nhìn rõ ai. Có tiếng trò chuyện nhưng rất khẽ. Tuy nhiên bầu không khí thì nồng ấm và thơm lựng, ngòn ngọt, đầm đậm, một thứ hương vị chẳng lời nào diễn tả được.
Bàn của hai cha con tôi kê kề một ô cửa sổ hẹp không có khung gỗ, giống như một lỗ thủng. Trông ra thấy sàn sàn nhấp nhô cả một vùng ướt át mưa thu những mái nhà phố cũ và những sân thượng, sân sau, những căn gác lửng. Một cũ xưa, tróc lở, nom là lạ, được nhìn thấy từ phía sau lưng.

Ngày hôm sau trận mạc chờ tôi, mà chiều đó cha đưa tôi nơi “trốn đời” ấy của người Hà Nội, nhấm nháp những giọt đắng ngắt và nghiền ngẫm ngậm ngùi bao nhiêu chuyện đời chưa từng bao giờ ông nói với tôi, có thể là cả chưa từng nói với ai. Cạn hai tách đầu, cha tôi gọi thêm hai tách nữa. Bao Tam Đảo đã hết, ông bóc bao khác, đưa mời tôi như mời một người bạn. Ông xòe diêm châm lửa cho tôi. Cha tôi rất nghiêm khắc. Xưa giờ, đừng nói bia rượu, trà với cà phê cha cũng không cho phép tôi, huống hồ thuốc lá. Nhưng bởi vì ngày mai tôi là người lính, lên đường ra trận nên với cha tôi, bắt đầu từ đây tôi là người lớn rồi, còn hơn thế, là người bạn, người để ông có thể tâm tình.
Bây giờ, mặc dù ham nghe những chuyện liên quan đến cà phê mà tôi ít uống cà phê, nhất là ít ra quán. Bởi những giọt cà phê, với tôi, quá nặng hoài niệm, quá nặng nỗi buồn nhớ, về cha tôi, về Hà Nội thuở xưa, và cả về thời trai trẻ của bản thân tôi.
                                                                                 Nguồn: http://www.trungnguyen.com.vn


Thứ Tư, 27 tháng 2, 2013

Các mốc chính trong lịch sử cafe !


850: Một chàng chăn dê tò mò đã khám phá ra café là một thức uống tuyệt vời.
Giữa những năm 800: Những người Hồi Giáo ở Ađen được ghi nhận là những người uống café đầu tiên.
Thế kỉ thứ 14 những người buôn nô lệ đã mang cà phê từ Ethiopia sang vùng Ả Rập.

1453: Thổ Nhĩ Kì ban hành luật lệ mới, cho phép một phụ nữ li dị chồng mình nếu không chịu đưa café cho cô ta.

Café trở nên phổ biến ở châu Âu, tuy bị cấm ở một vài nơi.
Vua Pope Clement VIII cấm việc uống café.

1511: Thủ tướng một nước Hồi giáo, Khair Beg, ra lệnh cấm café vì sợ nó gây những ý kiến phản đối do luật lệ mà ông ta đặt ra. Kết quả là ông đã bị sát hại bởi những người Sultan.
1517: cà phê được biết đến lần đầu tiên ở Constantinople (Istanbul ngày nay).
1554: quán cà phê đầu tiên ở châu Âu đã được mở ở đây bất chấp sự phản đối của nhà thờ.
1570: Cùng với thuốc lá, café lần đầu tiên xuất hiện tại Venice

Cuối thế kỉ 15: café ngày nay được chế biến (người ta biết rang hạt cà phê lên và sử dụng nó làm đồ uống)

1600: Thông qua những nhà buôn người Ý, các nước phương Tây lần đầu tiên biết đến café
1645: quán cà phê đầu tiên của Ý được mở ở Venezia
1650: café được ưa thích cuồng nhiệt tại Ấn Độ
1652: ở London lần lượt xuất hiện các quán cà phê đầu tiên của Vương quốc Anh.
1656: Việc uống café và mở tiệm café bị cấm tại Thổ Nhĩ Kỳ
1659: ở Pháp những quán đầu tiên được khai trương.
1669: café trở nên phổ biến ở Châu Âu
1683: Wien cũng có quán cà phê đầu tiên (do một người Ba Lan thành lập)

1672: Tiệm café đầu tiên ở Pháp được mở cửa
1690: Người Hà Lan trở thành những người đầu tiên kinh doanh và gieo trồng café như một thương phẩm, tại Ceylon và Java
1668: café đã thế chỗ bia, trở thành thức uống bữa sáng được yêu thích nhất tại New York
1697: Thuyền trưởng John Smith giới thiệu café với thị trường Bắc Mỹ

1700: Người Hà Lan và Pháp đã tiến hành cuộc chinh phạt và chiếm đảo Java và Martinique làm thuôc địa, bắt đầu việc gieo trồng cà phê ở đây. Hấu hết cà phê mà chúng ta gieo trồng ngày nay là giống hạt Arabica có xuất xứ từ Êtiôpia qua Yemen.
1710: người ta đã đem cây cà phê về châu Âu và trồng thử trong các khu vườn sinh vật
1714: café xuất hiện chính thức tại Mỹ
1721: Tiệm café đầu tiên ở Beclin được khai trương
1732: Johann Sebastian Bach sáng tác ra bản Kanata café (Coffee Canata)
1773: Uống café được coi là “nghĩa vụ quốc gia” đối với mỗi công dân Mỹ

Cuối thế kỉ 18 cây cà phê đã được trồng ở khắp các xứ sở nhiệt đới

1822: Máy espresso đầu tiên được tạo ra tại Pháp
1825: café xuất hiện ở Haoai
1850: Một người Pháp theo đạo Thiên Chúa Giáo đã đưa cà phê du nhập vào Việt Nam
1865: James Mason phát minh ra máy pha café(percolator)
1887: café xuất hiện ở Indochina
1896: café được giới thiệu với người Úc

Đầu những năm 1900:
Uống café vào bữa trưa trở thành một thời gian “bắt buộc” ở Đức
1901: Luigi Bezzera phát minh ra máy chiết tách hương vị của café
1901: café uống liền (instant coffee) được phát minh bởi một nhà hoá học người Mỹ gốc Nhật
1908: Melitta Benz phát minh ra phin pha café
1909: café uống liền được tung ra thị trường

1938: Nescafé (café sấy bằng phương pháp đông lạnh) được phát minh
1942: Trong chiến tranh thế giới thứ hai, lính Mỹ được phát khẩu phần gồm cả café uống liền hiệu Maxwell House
1971: Hãng café Starbuck mở đại lý đầu tiên tại Seattle


                                                                                                                                Sưu tầm